Những cách phòng ngừa bệnh tiểu đường

Theo dõi cân nặng

Tập thể dục thường xuyên giúp bạn kiểm soát cân nặng, đốt cháy calo và nâng cao sức khỏe. Nên uống 1 cốc nước trước khi ăn 30 phút và giảm khẩu phần ăn để tránh tăng cân không mong muốn.

Uống đủ nước

Đôi khi cơ thể không phân biệt được cảm giác đói và khát nước. Do đó, bổ sung nước cho cơ thể quan trọng hơn là ăn một số thức ăn dạng lỏng. Khi cơ thể được cung cấp đủ nước, bạn sẽ không còn thèm ăn thực phẩm chứa nhiều đường.

Ăn nhiều rau xanh

Khi bắt đầu bữa ăn nên ưu tiên các loại rau xanh trước, sau đó mới ăn các loại thực phẩm khác. Cách đó giúp bạn no nhanh hơn.

Không xem tivi khi ăn

Không nên xem tivi khi bạn đang ăn vì thói quen đó khiến bạn ăn nhiều hơn. Hạn chế các loại bánh kẹo tráng miệng giúp bạn duy trì lượng đường huyết và giảm lượng calo tiêu thụ.

Bổ sung quế vào thực đơn

Hãy thêm quế vào bữa ăn hàng ngày. Quế có công dụng duy trì lượng đường huyết ở mức ổn định.

Kiểm soát stress

Căng thẳng là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra bệnh tiểu đường, vì vậy hãy học cách kiểm soát stress. Ngồi thiền và các bài tập thở sẽ giúp bạn thư giãn hơn.

Ngủ đ

Đảm bảo bạn ngủ đủ giấc mỗi ngày. Nghiên cứu cho thấy những người thiếu ngủ có khả năng mắc bệnh tiểu đường cao hơn

BS.Tuyết Mai

(Theo Univadis/ Boldsky)

Chặn chứng “đỏng đảnh” của amidan

Amidan - cơ quan phòng vệ trong hệ hô hấp

Amidan (người ta còn gọi là hạnh nhân khẩu cái) là cơ quan bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, amidan rất cần thiết trong hệ miễn dịch và là nơi tiệt trùng cho cơ thể mạnh nhất so với các cơ quan cùng nhóm. Amidan hình thành tuyến miễn cách diệt các vi khuẩn khi chúng xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng và đường hô hấp.

Bình thường, mặt ngoài của tuyến amidan có màu hồng nhạt, trơn láng, hai amidan có thể tích nhỏ nằm sát hai bên thành họng. Khi cơ thể phải chống lại các vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, bản thân amidan có thể sẽ sưng lên và bị nhiễm trùng.

Thủ phạm gây viêm amidan

Rất nhiều loại vi khuẩn, virut khác nhau tiềm ẩn có thể gây ra viêm amidan, ví dụ như Epstein - Barr virus là một nguyên nhân thường gặp. Nó thường gặp ở người trẻ tuổi, đặc biệt trong những trường hợp như ở lớp học, giảng đường đại học, virut dễ dàng lây từ người này sang người khác do sự tập trung đông người. Trong số các loại vi khuẩn hay gây ra viêm họng thì hay gặp nhất là liên cầu nhóm A, người ta thường gọi là viêm họng liên cầu. Trong giai đoạn ủ bệnh, giai đoạn từ khi nhiễm khuẩn đến khi bệnh toàn phát (thường từ 2 - 4 ngày, có thể ít hơn).

Chặn chứng “đỏng đảnh” của amidanCần đi khám ngay khi thấy viêm họng kéo dài quá vài ngày hoặc đau rất nặng gây khó nuốt. Ảnh: TM

Viêm amidan: không chừa ai

Viêm amidan có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, lây lan từ người này sang người khác bởi những phần tử trong không khí hoặc những cái bắt tay, ôm hôn... Đặc điểm của bệnh này là đau ở trong họng và khó nuốt. Viêm amidan thông thường có thể tự khỏi mà không cần điều trị và thường thì không có biến chứng. Tuy nhiên, không ít trường hợp viêm amidan gây biến chứng và khó chịu cho người bệnh nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng.

Các triệu chứng điển hình

Đau trong họng (có khi rất đau, có thể kéo dài hơn 48 giờ) và có thể kết hợp với khó nuốt. Đau có thể lan lên tai; họng đỏ, amidan sưng và có thể được phủ bởi những chấm trắng; có thể sốt cao; có thể sưng hạch dưới hàm và hạch cổ, đau đầu; có thể mất tiếng hoặc thay đổi giọng nói.

Nếu đau họng là do nhiễm virut thì triệu chứng thường nhẹ và liên quan đến cảm cúm thông thường.

Nếu viêm họng do virut Coxsackie thì có những mụn phỏng mọc ở amidan và vùng vòm khẩu cái. Những mụn phỏng này sẽ vỡ trong vài ngày thành những vết loét, những vết loét này sẽ rất đau.

Nếu viêm họng do nguyên nhân nhiễm liên cầu, amidan thường sưng và bị bao phủ bởi những chấm trắng và họng đau. Bệnh nhân có sốt cao, hơi thở hôi và cảm thấy người rất mệt.

Những bệnh cảnh khác nhau này nhiều khi rất thay đổi và chúng ta cũng không thể nhìn vào họng ai đó mà nói rằng: đây là viêm do virut (điều trị bằng kháng sinh sẽ không hiệu quả) hoặc do vi khuẩn (có thể điều trị được bằng kháng sinh). Bác sĩ thường chẩn đoán dựa trên các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh, đôi khi phải cấy dịch tiết cổ họng và thử máu để xác định nguyên nhân.

Có thể gây biến chứng nếu không điều trị đúng

Thường là viêm họng cũng như viêm amidan thì không gây biến chứng gì, chỉ gây biến chứng khi kéo dài quá 1 tuần. Dưới đây là những biến chứng: Viêm nhiễm thứ phát như: viêm tai giữa, viêm xoang. Nếu viêm họng do liên cầu thì có thể gây sốt phát ban (bệnh ban đỏ). Một biến chứng hiếm gặp là áp-xe họng, thường xảy ra ở một bên. Nếu lớn, cần phải chích rạch tháo áp-xe. Trong một số hiếm trường hợp có thể gặp biến chứng như: thấp khớp, viêm thận (hiện nay hiếm gặp hơn so với nhiều thập niên trước đây).

Xử lý "thói đỏng đảnh" theo thời tiết của amidan

Trong hầu hết trường hợp, viêm nhiễm thường gây ra do virut chỉ cần điều trị triệu chứng bằng paracetamol để hạ sốt.

Trong một số ít bệnh nhân viêm amidan gây ra do vi khuẩn thì điều trị bằng penicillin hoặc erythromycin (nếu bệnh nhân bị dị ứng penicillin). Trường hợp dùng kháng sinh trong 2 - 3 ngày đã hết sốt thì người bệnh vẫn cần phải tiếp tục uống thuốc cho đủ phác đồ điều trị, tránh tình trạng bị kháng thuốc cho những lần viêm nhiễm tiếp theo.

Phẫu thuật cắt amidan có thể cần thiết cho những bệnh nhân viêm đi viêm lại nhiều lần hoặc những bệnh nhân viêm amidan nặng không đáp ứng với phác đồ điều trị hoặc ảnh hưởng nhiều đến quá trình học tập và công tác. Nhưng ngày nay, trên thế giới, người ta cắt amidan ít hơn nhiều so với trước đây.

ThS.BSCKII. Phạm Thắng

Những thói quen dễ gây hỏa hoạn trong dịp Tết

Có lẽ, bạn sẽ giật mình khi nhận ra một trong những thói quen phổ biến sau đây lại có thể gây nên thảm họa.

Thắp hương, đốt vàng mã

Thắp hương, đốt vàng mã là tập quán lâu đời của người Việt trong những dịp lễ tết. Bản thân việc thắp hương, đốt vàng mã không hề gây nguy hiểm. Tuy nhiên, trong ngày Tết, các gia đình có xu hướng thắp hương nhiều và liên tục.

Điều này làm tăng nguy cơ xảy ra hỏa hoạn do hương khi thắp nhiều rất dễ bùng cháy. Trong khi đó, khu vực bàn thờ lại đặt rất nhiều vật dụng bắt lửa như: bàn gỗ, ảnh thờ, nến…

Bên cạnh đó, thói quen đốt vàng mã trong nhà hoặc ngoài lề đường không có biện pháp che chắn cũng rất nguy hiểm. Tàn lửa có thể bị gió cuốn ra xung quanh, bắt lửa vào các vật dụng và gây cháy.

Để hạn chế nguy cơ hỏa hoạn từ việc thắp hương, đốt vàng mã, nên chú ý:

- Không thắp quá nhiều hương cùng lúc. Không đốt hương vòng qua đêm.

- Nên dùng thùng, lư hương làm bằng vật liệu chịu nhiệt để đốt vàng mã và đốt ở nơi thoáng, không có các vật liệu dễ cháy xung quanh. Khi đốt, luôn đặt bên cạnh một chậu nước hoặc cát để đề phòng trường hợp ngọn lửa bùng lên.

Thói quen đốt vàng mã trong nhà hoặc ngoài lề đường không có biện pháp che chắn cũng rất nguy hiểm

Lơ đãng khi sử dụng bếp

Trong những ngày Tết, các bà nội trợ thường khá bận rộn với việc nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa, tiếp khách… Chính vì vậy, mọi người thường có thói quen ‘tranh thủ’: đang nấu bếp cũng tranh thủ ra nói chuyện với khách, hoặc dọn lại bàn ghế… Tuy nhiên, một phút lơ đãng đôi khi lại gây ra hậu quả khôn lường, đặc biệt là với bếp than, bếp củi.

Hãy nhớ: Luôn luôn tắt bếp, dập lửa khi rời bếp.

Không khóa van bình ga

Rò rỉ khí ga là một trong những nguyên nhân phổ biến gây cháy nổ ở các hộ gia đình. Rất nhiều gia đình thường quên hoặc ngại không khóa van bình ga mỗi khi nấu nướng xong. Khi van bình ga không khóa, khí ga vẫn ở trong dây dẫn. Trong trường hợp dây dẫn bị chuột cắn hoặc bị rò rỉ, khí ga sẽ thoát ra ngoài, gặp tia lửa điện sẽ phát nổ, gây hỏa hoạn.

Vì vậy, để phòng tránh những rủi ro liên quan đến khí ga, bạn nên:

- Sau khi nấu xong, khóa van bình ga trước rồi mới tắt bếp. Mục đích của việc làm này là để ga trong ống cháy hết, hạn chế trường hợp ga rò rỉ ra ngoài.

- Thường xuyên kiểm tra bếp và thiết bị sử dụng ga. Thay mới nếu bếp, thiết bị, dây dẫn, đầu van có hiện tượng rỉ sét. Đối với dây dẫn ga, nên thay mới sau 3-5 năm sử dụng.

- Có thể tự kiểm tra vỏ bình, van, ống dẫn ga bằng cách bôi nước xà phòng. Nếu thấy bong bóng nổi lên, chứng tỏ thiết bị bị rò rỉ.

Rò rỉ khí ga là một trong những nguyên nhân phổ biến gây cháy nổ ở các hộ gia đình

Bất cẩn khi sử dụng thiết bị điện

Nhu cầu sử dụng các thiết bị điện trong ngày Tết thường tăng cao với tivi, tủ lạnh, dàn karaoke, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn nhấp nháy… Do đó, việc sử dụng 1 ổ chia điện để cắm chung nhiều thiết bị điện là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, việc này khiến nhiệt độ tại ổ điện tăng lên do các chân cắm không có không gian để tỏa nhiệt, do đó, dễ gây ra cháy nổ. Bên cạnh đó, trong những ngày này, nhiều gia đình đi chơi xa hoặc về quê thăm họ hàng nội ngoại nhưng vẫn để tủ lạnh, hệ thống đèn nhấp nháy… hoạt động. Sự cố chập điện có thể xảy ra bất kì lúc nào và dẫn đến hỏa hoạn không thể kiểm soát.

Các lưu ý quan trọng khi sử dụng thiết bị điện trong dịp Tết nên ghi nhớ:

- Hạn chế cắm nhiều thiết bị điện tập trung một chỗ, nhất là đối với các thiết bị tiêu thụ điện năng lớn. Tốt nhất, nên cắm trực tiếp thiết bị vào ổ cắm trên tường.

- Thường xuyên kiểm tra dây điện, thay thế các dây đã cũ, vỏ ngoài bị chảy, bị hư.

- Rút toàn bộ thiết bị điện, dập cầu dao khi không có ai ở nhà trong thời gian dài.

Hà Vân

Xử trí tình huống nôn ra máu

Nôn ra máu có thể là triệu chứng của rất nhiều bệnh, nó có thể là bệnh nhẹ tới nghiêm trọng. Nhưng dù thế nào thì đây cũng là một cấp cứu y tế, một dấu hiệu sức khỏe cần đến ngay cơ sở y tế để thăm khám và điều trị kịp thời.

Nôn ra máu là triệu chứng thường gặp của xuất huyết tiêu hoá nặng và nguyên nhân gây nôn ra máu rất đa dạng, có thể gặp do: loét dạ dày, loét hành tá tràng, ung thư dạ dày, viêm dạ dày cấp chảy máu sau uống thuốc như cocticoid, aspirin, thuốc chống viêm không steroid…, hoặc do polip dạ dày, tá tràng, viêm trợt chảy máu do rượu mạnh, do vi khuẩn H.P, do phình mạch máu, dị dạng mạch máu. Do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản trong một số bệnh như xơ gan, viêm tắc tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch trên gan. Đôi khi, tình trạng nôn dữ dội (do say tàu xe, mang thai, ngộ độc thức ăn, say rượu...), ho quá nhiều, quá mạnh cũng có thể dẫn tới nôn ra máu.

Nôn máu còn gặp trong một số bệnh về máu (xuất huyết giảm tiểu cầu, suy tuỷ xương), bệnh toàn thân gây tăng ure máu, ngộ độc…

Có thể nôn ra máu do nhiều nguyên nhân nhưng khi thấy có máu trong chất nôn, chất nôn có màu bất thường như màu cà phê, cần tới gặp bác sĩ ngay lập tức. Có một số đối tượng nguy cơ cao khi nôn ra máu như người uống rượu, trẻ nhỏ, thai phụ.Nôn ra máu có thể do xuất huyết dạ dày.

Nôn ra máu có thể do xuất huyết dạ dày.

Nôn ra máu ở trẻ nhỏ

Nôn ra máu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể do một số nguyên nhân khác như: các bất thường bẩm sinh, rối loạn đông máu, thiếu vitamin K, dị ứng sữa. Trẻ sơ sinh còn bú mẹ nôn ra máu đôi khi chỉ là do đầu vú của mẹ bị nứt, trợt chảy máu, bé nuốt máu vào theo sữa khi nôn trớ có lẫn cả máu đã nuốt vào. Ở trẻ nhỏ, hiện tượng nôn ra máu có thể do sốt xuất huyết, do thuốc (như lạm dụng thuốc hạ sốt ibuprofel), do giãn tĩnh mạch cửa gan, viêm dạ dày. Khi phát hiện trẻ nôn ra máu, cha mẹ hoặc người chăm sóc cần bình tĩnh, tốt nhất là đặt trẻ nằm nghiêng, tránh chất nôn trào vào đường thở, sau đó đưa trẻ đến cơ sở y tế khám. Nếu là trẻ sơ sinh có bú mẹ, nên kiểm tra đầu vú mẹ trước, nếu có nứt, chảy máu thì không cần vội đưa đi bệnh viện, có thể theo dõi loại trừ nguyên nhân này.

Uống rượu và nôn ra máu

Đối với những người uống rượu quá nhiều, nôn ra máu là một cảnh báo y tế bao gồm:

Xuất huyết đường tiêu hóa: Xảy ra thường xuyên nhất ở những người uống rượu quá nhiều dẫn đến say xỉn là nôn ói làm gia tăng áp lực thực quản, dạ dày và ruột dẫn đến xuất huyết. Xuất huyết tiêu hóa có thể đe dọa tính mạng trong một số trường hợp. Các triệu chứng cảnh báo nguy hiểm có thể bao gồm đau đột ngột và nặng ngực có thể lan ra sau lưng, đổ mồ hôi, khó thở, đau dạ dày.

Xơ gan: Người lạm dụng rượu bia có thể dẫn tới xơ gan. Điều này có thể dẫn đến vỡ tĩnh mạch cửa gan. Các triệu chứng kèm theo có thể bao gồm nôn mửa một lượng lớn máu đỏ tươi, yếu, ngất xỉu và chảy máu từ trực tràng.

Viêm, loét dạ dày có thể phát triển trên những người uống quá nhiều rượu. Các triệu chứng đi kèm có thể dao động từ nôn ra máu nghiêm trọng, màu đỏ tươi đến phân đen, có cảm giác đau dạ dày hoặc đau ở phần dưới của ngực.

Nôn ra máu ở người uống rượu nhiều, nghiện rượu là một dấu hiệu cần cấp cứu y tế.

Phụ nữ mang thai nôn ra máu

Nôn ra máu khi mang thai phổ biến do sự nôn mửa kéo dài trong để chứng ốm nghén. Tuy nhiên, có thể là nguyên nhân khác.

Do xuất huyết tiêu hóa: Khi do chảy máu ở phần trên của ruột, máu trong chất nôn có thể xuất hiện màu đen, màu nâu sẫm, màu bã cà phê. Phân có màu đen hắc ín có thể thấy trong trường hợp xuất huyết đường ruột thấp hơn.

Một số điều kiện cũng có thể gây nôn ra máu khi mang thai bao gồm: viêm niêm mạc dạ dày, ngộ độc thực phẩm, tăng huyết áp, stress, do tác dụng phụ của một số thuốc, do xơ gan.

Nếu loại trừ những nguyên nhân bệnh lý nói trên, nôn ra máu ở phụ nữ mang thai do nôn nghén có thể giảm thiểu bằng các biện pháp giảm nôn nghén đơn giản tại nhà như ăn ít, chia nhỏ bữa, uống nước ít một, tránh các nguyên nhân kích thích nôn như mùi, vị đặc biệt, ngậm kẹo gừng hoặc đồ ăn có vị gừng... Nếu uống thuốc chống nôn, phụ nữ mang thai cần tư vấn bác sĩ. `

Lời khuyên của thầy thuốcNhư đã nói, nôn ra máu có thể có nhiều nguyên nhân, hiện diện của máu trong chất nôn có thể có màu đỏ, nâu hay nâu sẫm. Tuy nhiên, triệu chứng nôn ra máu cần phải được tư vấn của bác sĩ. Nên đến bệnh viện hoặc cầu cứu sự trợ giúp y tế ngay khi người bệnh có các triệu chứng sau:.- Chóng mặt, cảm thấy yếu ớt, hoặc ngất xỉu;- Tinh thần lơ mơ, không tỉnh táo, lẫn lộn;- Da xanh xao, sờ vào thấy mát hơn bình thường;- Nhịp tim nhanh, lo lắng, hoặc kích động;- Nhìn mờ;- Nôn nao, buồn nôn;- Nhịp thở nhanh, thở nông;- Giảm sản xuất nước tiểu;Đến ngay phòng cấp cứu nếu người bệnh có cơn đau bụng dữ dội, nôn mửa một lượng máu lớn, nôn liên tục, nhiều lần.

BS. Lê Thục Trinh

Cứng khớp buổi sáng, đối phó thế nào?

Cứng khớp buổi sáng là một biểu hiện khó chịu thường gặp nhất của các bệnh nhân đau cơ mạn tính, viêm khớp, viêm khớp dạng thấp và những người có cơ thể không kịp phục hồi sau một ngày hoạt động nhiều và liên tục. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc viêm khớp dạng thấp là 0,5% trong nhân dân và chiếm 20% các loại bệnh khớp nằm điều trị tại bệnh viện.

Cứng khớp buổi sáng là gì?

Cứng khớp khi thức dậy vào buổi sáng là biểu hiện thường gặp của các bệnh liên quan viêm khớp. Khớp và cơ bắp rất đau khi thực hiện các vận động khớp đầu tiên khiến bạn cảm thấy khó khăn và muốn nằm nán lại trên giường. Cứng khớp buổi sáng có thể đi kèm với đau khớp, gây khó khăn trong sinh hoạt và thực hiện các công việc thường ngày.

Cần chú ý đến thời gian cứng khớp buổi sáng (cứng khớp kéo dài bao lâu) sẽ giúp cho bạn và bác sĩ quyết định làm thế nào để đối phó với chứng cứng khớp. Nếu cứng khớp buổi sáng kéo dài hơn một giờ và - trong một số trường hợp lên đến vài giờ - là đặc trưng của viêm khớp dạng thấp hoặc các chứng viêm khác của khớp. Cứng khớp buổi sáng kéo dài ít hơn (thường nửa giờ hoặc ít hơn) có nhiều khả năng là thoái hóa khớp hoặc các bất thường cơ xương khác không có viêm. Mặc dù có những khuyến cáo điều trị hiệu quả nhưng cứng khớp buổi sáng vẫn là một vấn đề dai dẳng và gây khó chịu đối với nhiều bệnh nhân viêm khớp.

Cứng khớp buổi sáng, đối phó thế nào?

Vì sao bị cứng khớp buổi sáng?

Các nguyên nhân cơ bản của cứng khớp buổi sáng là do thiếu hoạt động thể chất hằng ngày, thừa cân, có một chế độ ăn uống nghèo nàn, ngủ không đúng tư thế và ở trong một môi trường có xu hướng lạnh và/hoặc ẩm ướt. Thừa cân khiến gây đè ép lên các khớp, cơ, gân và dây chằng gây đau và cứng khớp. Một chế độ ăn uống nghèo nàn, chủ yếu chứa carbohydrate đơn giản gây yếu cấu trúc cơ khớp. Một tư thế ngủ không đúng có thể khóa chặt cơ thể của bạn ở một vị trí xấu trong nhiều giờ, gây giảm lưu lượng máu đến các cơ bắp tại chỗ và gia tăng một sự tích tụ của acid lactic gây đau và cứng khớp. Sống và làm việc trong một môi trường lạnh hoặc ẩm ướt làm cho cơ bắp cứng lại vì lạnh hoặc ẩm ướt và ảnh hưởng đến lưu lượng máu đi khắp cơ thể.

Cơ chế gây cứng khớp buổi sáng: Một giả thuyết về cứng khớp buổi sáng được gọi là hiện tượng gel (gel phenomenon) - là tình trạng cứng khớp hình thành sau thời gian dài ngồi lâu hoặc không hoạt động, đặc trưng với tình trạng không viêm. Một số nhà nghiên cứu lưu ý rằng cứng khớp buổi sáng là một triệu chứng nhịp điệu sinh học mà không được hiểu đầy đủ. Một số cho rằng có thể có sự phóng thích của cortisol không đủ trong cơ thể vào ban đêm để bù đắp tăng cao của yếu tố tiền viêm cytokine như IL-6 (interleukin 6).

Làm gì để đối phó với cứng khớp buổi sáng?

1. Ngủ ở một tư thế giúp hỗ trợ khớp xương của bạn miễn là bạn thấy thoải mái như nằm nghiêng hoặc nằm ngửa. Giấc ngủ sâu giúp cơ thể phục hồi và nạp lại năng lượng sau một ngày dài làm việc.

2. Phòng ngủ hay môi trường ngủ đủ ấm áp, tránh bị gió lùa. Nếu trời lạnh, nên dùng máy sưởi hoặc đắp thêm chăn để ngăn lạnh hoặc ẩm ướt, dễ gây cứng các khớp.

3. Trước khi ra khỏi giường, làm các bài tập vận động đơn giản để khởi động và làm dẻo dai các khớp.

4. Tắm nước nóng là cách gây toát mồ hôi, thúc đẩy tuần hoàn máu và giảm co thắt cơ bắp. Khi vừa mới thức dậy, có thể tắm ngay dưới vòi sen nóng - chỉ đứng dưới vòi nước ấm và thả lỏng thư giãn hoàn toàn. Khi cơ thể đã được làm ấm lên, thực hiện một số động tác uốn cong đầu gối và các khớp một cách nhẹ nhàng.

5. Làm một vài bài tập nhẹ tại chỗ vào buổi sáng thức dậy cho đến khi cơ bắp của bạn bắt đầu được nới lỏng.

6. Tập thể dục hằng ngày (hoặc đi bộ kèm đung đưa cánh tay) là một cách tuyệt vời để kích thích giải phóng endorphin - một hormon giảm đau tự nhiên trong cơ thể. Tập thể dục giúp tuần hoàn lưu thông tốt, giúp đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể. Tạo thói quen đi bộ khoảng 10.000 bước/ngày sẽ giúp cải thiện đáng kể sức khỏe toàn thân và các khớp.

7. Tìm hiểu những cách để đối phó và quản lý stress thật hiệu quả, tạo một tinh thần luôn phấn chấn vui vẻ.

8. Uống nước đầy đủ, tốt nhất uống 6-8 ly nước lọc mỗi ngày.

9. Ăn lành mạnh: cắt giảm carbohydrate đơn giản và tinh chế. Loại bỏ tất cả các loại thực phẩm màu nhân tạo, thực phẩm giàu bột mì trắng và hương vị/chất ngọt nhân tạo (sirô có nhiều fructose, fructose tinh chế và aspartame).

Lời khuyên của thầy thuốc

Cứng khớp vào buổi sáng là dấu hiệu thường gặp ở nhiều người, nhất là người cao tuổi và cảnh báo sụn khớp đang bị thương tổn và thoái hóa khớp đang xảy ra, do vậy, việc chủ động chăm sóc sụn khớp từ sớm là giải pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả.

Cứng khớp vào buổi sáng là biểu hiện thường gặp ở người bệnh đau cơ mạn tính, viêm khớp, viêm khớp mạn tính...

BS. Hải châu

((Theo verywell.com và nstitutefornaturalhealing.com))

Các yếu tố nguy cơ làm tăng cholesterol

Nếu bạn có nhiều yếu tố nguy cơ bị tăng cholesterol, bạn cũng tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch.

Cholesterol là chất béo giống như sáp được tạo ra trong gan và có ở trong một số thực phẩm như sữa nguyên kem, trứng, thịt mỡ. Cơ thể cần một số cholesterol để hoạt động. Tuy nhiên, lượng quá cao cholesterol toàn phần và cholesterol xấu có thể góp phần làm tăng nguy cơ bệnh tim.

Nguy cơ tăng cholesterol phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Một số yếu tố có thể giảm được nhờ thay đổi lối sống.

Dưới đây là những yếu tố góp phần làm tăng cholesterol.

Những yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát

Di truyền

Tăng cholesterol máu là một tình trạng có tính di truyền. Một khi đã xác định, tất cả các thành viên trong gia đình cần được đánh giá và điều trị, trẻ em cần được sàng lọc về lượng cholesterol từ tuổi thanh niên trở đi.

Giới tính

Sau mãn kinh, hàm lượng cholesterol xấu của phụ nữ tăng lên làm tăng nguy cơ bệnh tim.

Độ tuổi

Nguy cơ của bạn tăng theo độ tuổi. Nam giới trên 45 tuổi và nữ giới từ trên 55 tuổi sẽ tăng nguy cơ bị cholesterol cao

Tiền sử gia đình

Nguy cơ sẽ tăng lên nếu bố hoặc anh em trai trong gia đình bị bệnh tim sớm (trước tuổi 55) hoặc mẹ và chị em gái bị bệnh tim sớm (trước tuổi 65).

Dân tộc

Những người gốc Ấn Độ, Pakistan, Bangladeshi, Sri Lanka có nguy cơ cao bị tăng cholesterol.

Yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được gồm

Chế độ ăn

Thực hiện chế độ ăn Địa Trung Hải với nhiều rau, hoa quả, đậu, ngũ cốc nguyên cám, dầu oliu và dầu cá, hàm lượng cholesterol máu sẽ được cải thiện và sức khỏe tim sẽ tốt hơn.

Cân nặng

Thừa cân có thể làm tăng cả lượng cholesterol toàn phần và cholesterol xấu và tình trạng viêm liên quan tới béo phì có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim.

Hoạt động thể chất/tập thể dục

Tăng cường hoạt động thể chất giúp giảm cholesterol xấu và tăng cholesterol tốt. Nó cũng giúp giảm cân

Uống rượu

Uống rượu thường xuyên có thể làm tăng lượng cholesterol và triglyceride.

Hút thuốc

Các hóa chất trong thuốc lá ảnh hưởng tới cholesterol tốt và làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch hoặc làm hẹp động mạch.

Bệnh

Một số bệnh có thể cũng làm tăng cholesterol, gồm bệnh thận, bệnh gan, tuyến giáp kém hoạt động. Điều trị những bệnh này có thể giúp kiểm soát lượng cholesterol máu.

Bs. Cẩm Tú

(Theo Webmd/ Univadis)

Tắc mạch phổi: Một cấp cứu tối khẩn

Tắc động mạch phổi (TĐMP) hay còn gọi là thuyên tắc mạch phổi, là hiện tượng tắc của ĐMP chính hoặc một trong các nhánh của nó. TĐMP cấp là tình trạng cấp cứu đòi hỏi được chẩn đoán và điều trị kịp thời vì bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị. Chẩn đoán còn gặp nhiều khó khăn do các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thường quy không đặc hiệu.

Viêm tắc tĩnh mạch sâu là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh

TĐMP là một biến chứng thường gặp của viêm tắc tĩnh mạch sâu, hơn 50% trường hợp TĐMP chụp tĩnh mạch có viêm tắc tĩnh mạch sâu. Các yếu tố nguy cơ có thể gặp là: bất động kéo dài, hậu phẫu trong vòng 3 tháng, tai biến mạch não, liệt nửa người, liệt 2 chân, tiền sử viêm tắc tĩnh mạch, ung thư, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm trong vòng 3 tháng, bệnh tim mạn tính, phụ nữ béo phì, hút thuốc lá nhiều (trên 25 điếu/ngày) và tăng huyết áp.

Cần sự nhạy cảm của thầy thuốc khi chẩn đoán bệnh

Với TĐMP nếu người thầy thuốc không nghĩ đến thì không thể chẩn đoán được. Đứng trước bệnh nhân cấp cứu có biểu hiện khó thở, đau ngực kiểu màng phổi, ngất, tụt huyết áp mà không rõ nguyên nhân, có thể kèm theo các yếu tố nguy cơ của bệnh lý huyết khối-tắc mạch, người thầy thuốc cần phải nghĩ đến và thực hiện quy trình chẩn đoán phù hợp tránh bỏ sót TĐMP - một bệnh lý có thể gây tử vong cho bệnh nhân.

Tắc mạch phổiHuyết khối gây tắc động mạch phổi.

Một số biện pháp cần làm để tìm ra bệnh

Cùng với những biện pháp như điện tâm đồ, Xquang tim phổi thì các biện pháp sau đây giúp phát hiện bệnh chính xác hơn như:

Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới: Có thể được dùng để chẩn đoán gián tiếp trong các trường hợp nghi ngờ TĐMP, nếu phát hiện viêm tắc tĩnh mạch sâu thì điều trị như TĐMP cấp. Dương tính giả của siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới (3%) có thể dẫn đến điều trị chống đông không cần thiết cho bệnh nhân; 29% bệnh nhân TĐMP có viêm tắc tĩnh mạch sâu trên siêu âm Doppler có ép tĩnh mạch.

Chụp mạch phổi: Được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán TĐMP cấp. Chụp mạch phổi âm tính cho phép loại trừ TĐMP, nguy cơ âm tính giả rất thấp. Tỷ lệ tử vong gây ra do chụp mạch phổi là 2%, tỷ lệ biến chứng khoảng 5%.

Chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc (chụp MsCT) phổi: Độ đặc hiệu cao, an toàn, nhanh chóng, chẩn đoán được các cấp cứu khác của lồng ngực. Kỹ thuật này cho độ nhạy 90% và độ đặc hiệu 95%.

Siêu âm tim: Các bất thường trên siêu âm tim có thể gặp như tăng kích thước thất phải, giảm chức năng thất phải, hở van ba lá. Nếu có rối loạn chức năng thất phải và huyết khối buồng thất phải trên siêu âm tim là yếu tố tiên lượng nặng của TĐMP. Tỷ lệ TĐMP ở bệnh nhân có huyết khối thất phải >35%, ngược lại, trong số các bệnh nhân TĐMP thì 4% có huyết khối thất phải. Siêu âm tim là một thăm dò nhanh phải làm trước khi dùng thuốc tiêu sợi huyết.

Ngay lập tức hồi sức cấp cứu và có hướng xử trí kịp thời

Hồi sức: Cần ổn định bệnh nhân, thở oxy nồng độ cao, có thể thở máy qua NKQ. Truyền dịch natriclorua 0,9%, nếu truyền dịch mà không giúp cải thiện huyết động thì tiến hành cho thuốc vận mạch.

Bất động: Với TĐMP thì bệnh nhân cần bất động tại chỗ 24-48 giờ.

Thuốc chống đông: Cho ngay thuốc chống đông khi điểm Wells > 4 và không có nguy cơ chảy máu. Vì thực tế nếu không được điều trị, tỷ lệ tử vong là 30% do tái phát, trong khi đó, tử vong do chảy máu chỉ < 3%. Nguy cơ TĐMP tái phát 25% nếu liều chống đông không đủ) không đạt được ngưỡng điều trị trong 24 giờ đầu tiên.

Thuốc tiêu sợi huyết: Mặc dù còn chưa nhiều nghiên cứu đủ lớn khẳng định cải thiện tỷ lệ tử vong do TĐMP nặng của thuốc tiêu sợi huyết, tuy nhiên, giúp cải thiện về mặt huyết động và sinh lý tuần hoàn, hầu hết các bác sĩ lâm sàng chấp nhận chỉ định dùng tiêu sợi huyết cho TĐMP nặng.

Phin lọc tĩnh mạch chủ dưới: Thiết bị giúp ngăn huyết khối di chuyển từ tĩnh mạch khung chậu hoặc tĩnh mạch chi dưới lên phổi. Chỉ định khi có chống chỉ định tuyệt đối với thuốc chống đông; TĐMP tái phát mặc dù đã dùng thuốc chống đông phù hợp; Biến chứng thuốc chống đông. Biến chứng khi đặt phin lọc thường hiếm, tuy nhiên có thể gặp như: đặt sai vị trí, phin trôi, hoại tử và rách thành tĩnh mạch chủ dưới và tắc phin do huyết khối.

Lấy bỏ huyết khối (qua catheter hoặc phẫu thuật): Lấy huyết khối được cân nhắc khi TĐMP nặng có chỉ định tiêu sợi huyết nhưng thất bại hoặc chống chỉ định.

Kỹ thuật can thiệp nội mạch lấy huyết khối qua catheter bơm nước làm tan huyết khối dưới áp lực, hút ra ngoài, đòi hỏi catheter đủ lớn hoặc kỹ thuật khoan phá huyết khối rồi hút ra ngoài.

Mổ lấy huyết khối kinh điển là một đại phẫu thuật, làm ở trung tâm lớn đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm và tim phổi máy.

Các dấu hiệu cần phải nghĩ đến tắc động mạch phổi cấpNgười bệnh thường khó thở là dấu hiệu hay gặp nhất, ngay cả khi nghỉ ngơi hoặc khi gắng sức, đau ngực kiểu màng phổi, ho, khó thở, đau bắp chân và đùi, sưng bắp chân và đùi... Các dấu hiệu khác: nhịp thở nhanh, nhịp tim nhanh, ran, rung thanh giảm, tĩnh mạch cổ nổi, trụy mạch (ít gặp). TĐMP nặng có dấu hiệu suy tim phải cấp như tăng áp lực tĩnh mạch cổ... Nhưng nói chung, các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, có thể gặp ở những bệnh nhân cấp cứu không có TĐMP. Có 2 loại TĐMP là cấp và mạn tính. TĐMP cấp tính điển hình thường biểu hiện triệu chứng rầm rộ sau khi các mạch phổi bị tắc. Ngược lại, TĐMP mạn có xu hướng phát triển triệu chứng một cách từ từ thường là khó thở tăng dần từ 2 tuần cho đến vài năm liên quan đến mức độ tăng áp ĐMP. Chẩn đoán TĐMP gặp nhiều khó khăn do triệu chứng lâm sàng thường thay đổi và không đặc hiệu, nhiều trường hợp chỉ được chẩn đoán khi mổ tử thi.

TS.BS. Hoàng Bùi Hải